|
| Để VN bay lên: Góc nh́n từ một chuyên gia quốc tế | ||||
| 12:43 23/11/2006 | ||||
|
(VietNamNet) - "Về dài hạn, một đất nước sẽ không trở nên cường thịnh chỉ với việc may áo sơ-mi và vặn bu-lông đinh ốc. Việt Nam cần phải cạnh tranh trực diện với Trung Quốc và Ấn Độ trong các lĩnh vực công nghệ, nghiên cứu, và phát minh" - Ư kiến của ông Thomas J. Vallely, Giám đốc Chương tŕnh Việt Nam tại Trường Quản lư Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard.\ Trong cuộc trao đổi gần đây với nhà báo Nguyễn Anh Tuấn, ông Thomas Vallely đă thẳng thắn phân tích những thách thức mà VN đang phải đối mặt cũng như những công việc VN cần phải làm để vượt lên trong cuộc cạnh tranh mới. Kinh tế VN đang tăng trưởng dưới mức tiềm năng Ông và các đồng nghiệp của ḿnh ở Trường Harvard và Chương tŕnh Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP. Hồ Chí Minh nghiên cứu nền kinh tế Việt Nam rất cẩn thận. Theo ông nền kinh tế Việt Nam hiện đang gặp phải những thách thức chủ yếu nào?
Trước tiên phải nói ngay rằng nền kinh tế của Việt Nam đang tăng trưởng dưới mức tiềm năng mà lẽ ra nó phải có. Tôi cho rằng điều này đă rơ ràng. Mỗi năm, Việt Nam cần tạo ra ít nhất một triệu việc làm mới để đáp ứng nhu cầu về việc làm của thị trường lao động. Trong năm năm qua, khu vực nhà nước trung b́nh mỗi năm tạo được khoảng 12.000 việc làm, tức là xấp xỉ 1% nhu cầu về số việc làm mới của toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, khu vực nhà nước lại nhận được phần lớn đầu tư của quốc gia. Về mặt lư thuyết, yếu tố có tính quyết định là mức độ hiệu quả của doanh nghiệp chứ không phải là thành phần kinh tế của chúng. Đặng Tiểu B́nh đă từng nói “mèo trắng hay đen không quan trọng miễn là bắt được chuột”. Tuy nhiên, nếu nh́n vào kết quả hoạt động th́ dường như khu vực quốc doanh không bắt được nhiều chuột lắm. Có nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng khu vực này rất kém hiệu quả, không đóng nổi vai tṛ là động lực tăng trưởng kinh tế, không tạo được nhiều việc làm mới, khó thích ứng và sử dụng những công nghệ mới. Việt Nam cần những DN lớn nhưng hiệu quả Hai tuần trước, ngay sau khi có tin chính thức về việc Việt Nam gia nhập WTO, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đă có một bài phân tích những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO, mang tên “WTO: cơ hội, thách thức và hành động của chúng ta.” Thủ tướng đă liệt kê một số ưu tiên cho những cải cách tiếp theo, bao gồm việc tăng cường hệ thống tài chính và luật pháp, và tiếp tục tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Ông có biết về bài phân tích này không? Tôi thực sự cảm thấy rất ấn tượng về bài phân tích gần đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bài phân tích của Thủ tướng đă tŕnh bày một chương tŕnh nghị sự cho cải cách với sự rơ ràng và mạnh mẽ hiếm thấy. Đặc biệt, Thủ tướng dường như hiểu rất rơ về tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách đối với những thành công trong tương lai của Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định rằng việc tham dự
vào quá tŕnh toàn cầu hóa và nền thương mại toàn cầu là một yêu cầu thiết
yếu chứ không phải là điều mà Việt Nam có thể lựa chọn tham gia hay không
tham gia. Thủ tướng cũng bày tỏ niềm tin vào sự thành công của Việt Nam
trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Tôi c̣n nhớ rằng, cách đây không lâu Việt
Nam c̣n chưa có được một sự tự tin như thế. Hiện nay, mặc dù nh́n chung các doanh nghiệp dân doanh hoạt động hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên quy mô nhỏ đă hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường thế giới. Để có thể khai thác những
thuận lợi do việc gia nhập WTO mang lại, Việt Nam cần có những doanh nghiệp
lớn hiệu quả và có khả năng cạnh tranh thành công. Để tạo điều kiện cho sự
xuất hiện các doanh nghiệp lớn đ̣i hỏi phải cải thiện hệ thống luật pháp và
tài chính, và then chốt là phải nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này đ̣i hỏi phải thiết lập được một sự hợp tác có ư nghĩa giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Thực tế là hiện nay rất ít doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào các hoạt động lắp ráp và các khâu có giá trị gia tăng thấp. Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và thiết kế hiếm khi được các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện ở Việt Nam. Đầu tư trong các nghành thâm dụng lao động là cần thiết v́ lực lượng lao động của Việt Nam dang không ngừng lớn lên. Tuy nhiên về dài hạn, một đất nước sẽ không trở nên cường thịnh chỉ với việc may áo sơ-mi và vặn bu-lông đinh ốc. Việt Nam cần phải cạnh tranh trực diện với Trung Quốc và Ấn Độ trong các lĩnh vực công nghệ, nghiên cứu, và phát minh. Rơ ràng là sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học ứng dụng và cơ bản với các ngành công nghiệp ở Việt Nam hiện nay c̣n rất hạn chế. Theo số liệu của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, trong năm 2002 người Việt Nam chỉ đăng kư vẻn vẹn có hai bằng phát minh sáng chế so với 40.346 của Trung Quốc và 1.117 của Thái Lan. Những số liệu thống kê này cho thấy con đường biến ước mơ của Việt Nam trở thành một tác nhân quan trọng trong các ngành công nghiệp dựa vào tri thức c̣n rất xa vời. Nghiên cứu chính sách: Việt Nam đang tụt hậu Trong bài phân tích về những cơ hội và thách thức trước thềm chính thức gia nhập WTO, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng trong một thế giới toàn cầu hóa, cạnh tranh không chỉ tồn tại giữa các doanh nghiệp mà c̣n giữa các quốc gia và giữa các chính sách được thực thi. Trường Harvard đă và đang tiếp tục phân tích các chính sách kinh tế của Việt Nam và tham gia đối thoại với chỉnh phủ Việt Nam trong nhiều năm. Ông nghĩ ǵ về t́nh trạng hiện tại của các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam? Thứ nhất, Việt Nam may mắn có được một số nhà hoạch định chính sách trẻ tuổi rất tài năng ở các cấp chính quyền địa phương và trung ương. Tôi tự hào là Harvard và Chương tŕnh Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) đă góp phần đào tạo nên một số người như vậy. Khi Việt Nam và Mỹ kết thúc đàm phán song phương trong khuôn khổ các cuộc đàm phán để Việt Nam gia nhập WTO, đoàn đàm phán của Mỹ đă từng không dấu giếm sự thán phục đối với các đối tác trong đoàn đàm phán của Việt Nam. Tôi nghe kể rằng một số thành
viên trong đoàn đảm phán của Mỹ đă từng than phiền rằng đàm phán với Việt
Nam quá khó v́ trong đoàn đàm phán của Việt Nam có nhiều người được đào tạo
ở các trường đại học tinh hoa của Mỹ, trong đó có Harvard! Thiếu nghiên cứu chính sách chất lượng cao, nền kinh tế Việt Nam như một con tầu lênh đênh giữa đại dương mà không có bản đồ hay la bàn. Về phương diện này, nhiều nước trong khu vực đang làm tốt hơn Việt Nam. Những đồng nghiệp của tôi ở Harvard kể cho tôi nghe rằng những phân tích kinh tế và chính sách do các nhà nghiên cứu Trung Quốc thực hiện thậm chí c̣n chất lượng và có tính phê phán hơn cả những nghiên cứu do các chuyên gia nước ngoài thực hiện. Đáng tiếc là Việt Nam chưa
như vậy, thậm chí nhiều chỉ số phát triển cơ bản của Việt Nam vẫn c̣n do các
tổ chức quốc tế và nước ngoài thực hiện. Và đây cũng chính là lư do tại sao việc thiết lập những cơ chế để chính phủ có thể đối thoại với các doanh nghiệp quốc tế cũng như những đối tác quan trọng khác lại cần thiết đến như vậy. Đó cũng là lư do tại sao các vị tổng thống, bộ trưởng bộ tài chính, tổng giám đốc v.v. lại quây quần ở một sự kiện như Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum). Đó cũng là lư do tại sao hàng ngũ lănh đạo Trung Quốc thường xuyên tham vấn riêng các nhà lănh đạo doanh nghiệp và chuyên gia thông qua các sự kiện như hội nghị thị trưởng Thượng Hải do tập đoàn AIG tài trợ. Cơ hội tiếp cận với quan điểm khách quan từ những người đă đạt tới đỉnh cao nghề nghiệp trong lĩnh vực của ḿnh có thể hết sức hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách. Viện trợ tăng năng lực
nghiên cứu: Lợi bất cập hại Về phía ḿnh, các viện nghiên
cứu của Việt Nam tập trung vào việc “theo đuổi” các dự án theo những ưu tiên
của các nhà nhà tài trợ, nhưng trong nhiều trường hợp có thể không liên quan
mấy với nhu cầu thực tế của Việt Nam. Khi sự tồn tại của các viện nghiên cứu
phụ thuộc vào các dự án của nhà tài trợ th́ trao quyền tự chủ tài chính một
cách triệt để cho các viện nghiên cứu của Việt Nam có thể lại làm t́nh h́nh
xấu đi. Là một cựu sinh viên của Harvard, tôi nghĩ rằng anh sẽ đánh giá cao những thành tích mà Harvard đạt được bằng cách kiến tạo một môi trường trong đó mọi người được đánh giá chỉ dựa vào tài năng của họ. Ở Harvard, mọi người được khuyến khích tư duy với tinh thần phê phán và thách thức những “niềm tin truyền thống”. Không một quốc gia nào đă từng thành công trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa mà không có những trường đại học và những phân tích chính sách chất lượng cao. Đầu tư quan trọng hơn tiền
viện trợ! Đúng như vậy. Nh́n một cách tổng thể th́ tác động của viện trợ nước ngoài là khá khiêm tốn. Cần phải nói thêm rằng điều này không chỉ đúng với Việt Nam mà c̣n xảy ra với phần lớn các nước nhận viện trợ. Những thành tự Việt Nam đạt được trong xóa đói, giảm nghèo và duy tŕ một mức tăng trưởng tương đối cao (mặc dù vẫn chưa xứng với tiềm năng!) là nhờ vào những quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước giải phóng được tiềm năng của con người Việt Nam. Tất cả những thành tựu này đạt được trước khi có sự hiện diện của các nhà tài trợ nước ngoài, mặc dù các nhà tài trợ này thường muốn được kể công. Nh́n chung, viện trợ nước ngoài thường được sử dụng cho những dự án mà trước sau ǵ th́ Việt Nam cũng sẽ xây dựng. Cộng đồng các nhà tài trợ không ủng hộ những phân tích có tính phê phán. Chẳng hạn như so với Ngân hàng Thế giới, các cơ quan truyền thông của Việt Nam trong đó có VietnamNet hiện đang đóng một vai tṛ quan trọng và có giá trị hơn nhiều trong việc phân tích các thách thức phát triển mà Việt Nam đang gặp phải. Tôi cho rằng một trong những diễn biến thú vị nhất trong hội nghị giữa kỳ các nhà tài trợ ở Nha Trang tháng 6 vừa rồi là việc các báo chí của Việt Nam bày tỏ lo ngại rằng các nhà tài trợ thiếu tinh thần phê phán. Vậy ông có cho rằng cộng đồng các nhà tài trợ ở Việt Nam đóng một vai tṛ tích cực nào không? Chẳng hạn như ở giai đoạn phát triển hiện tại của Việt Nam với nhu cầu cấp bách về cơ sở hạ tầng th́ viện trợ nước ngoài có thể có vai tṛ quan trọng, bằng không Việt Nam sẽ phải vay tiền ở thị trường quốc tế với lăi suất cao hơn? Tôi cho rằng những tổ chức
muốn thúc đẩy việc đối thoại dựa trên ư tưởng chứ không phải dựa trên tiền
có thể cơ một số ảnh hưởng nhất định, đặc biệt là trong hoàn cảnh năng lực
phân tích chính sách của Việt Nam c̣n hạn chế. Sự phối hợp giữa Liên hiệp
quốc với Harvard và chính phủ Việt Nam trong nỗ lực nghiên cứu những thách
thức chính sách then chốt mà Việt Nam đang phải đối diện là một ví dụ cụ
thể. Kết luận của tôi là FDI quan trọng hơn ODA rất nhiều. Quyết định mới đây của Intel gia tăng đầu tư tại TP. Hồ Chí Minh, hay đầu tư của Canon ở phía Bắc có tầm quan trọng then chốt. Chuyến viếng thăm Nhật Bản mới đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ như đă gặt hái được nhiều thành công về phương diện này. Đầu tư từ Nhật Bản có thể đóng một vai tṛ then chốt đối với tương lai của Việt Nam. Một nhà kinh tế học của Nhật Bản gần đây cho rằng Việt Nam đang có một cơ hội to lớn để trở thành điểm đến của các dự án đầu tư chất lượng cao từ Nhật Bản. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này đ̣i hỏi khu vực tư nhân của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng để có thể tích hợp vào chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia lớn.
|