Cở sở sản xuất cá thể bị bỏ rơi về chính sách
08:42 21/07/2006

(VietNamNet) - Được ghi nhận là một trong 6 thành phần kinh tế của đất nước, là bộ phận được xem là rất năng động và có nhiều đóp góp cho sự phát triển kinh tế. Nhưng đến nay, các cơ sở  sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp mà trước đây c̣n gọi là các hộ tiểu thương, tiểu thủ công nghiệp... vẫn chưa được quan tâm một cách đầy đủ. Trong các quy định, thống kê và cả chính sách... dường như đang bỏ rơi bộ phận này.

Mạnh nhờ số đông

Trong báo cáo mới đây Tổng cục Thống kê cho biết, số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp (cơ sở) đă tăng liên tục trong 10 năm gần đây. Nếu như năm 1995 có 1,87 triệu cơ sở, đến năm 2005 đă lên đến 3,05 triệu. Con số này lớn rất nhiều lần số DN đăng kư tại cùng thời điểm. Cụ thể, năm 1995 gấp 79 lần, 2002 gấp 42 lần và 2005 gấp 26,5 lần. 

Soạn: AM 841837 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Các cơ sở sản xuất cá thể đóng góp lớn cho nền kinh tế.

Khảo sát của Tổng cục Thống kê cho thấy, điểm yếu lớn nhất của các cơ sở này là quy mô nhỏ bé và sản xuất manh mún. Mặc dù số lượng khá đông nhưng quy mô b́nh quân của mỗi cơ sở khá nhỏ, sử dụng khoảng 1,7 lao động/cơ sở, b́nh quân mỗi cơ sở chỉ có 43,7 triệu đồng vốn và 31,1 triệu đồng tài sản cố định.

Bên cạnh đó, tŕnh độ lao động thấp, với hơn 92% tổng số lao động chưa qua đào tạo. Đây là tỷ lệ cao nhất trong các cơ sở kinh tế hành chính và sự nghiệp và tỷ lệ này gần như không cải thiện trong suốt thời gian dài. Điều này đă ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các cơ sở.

Tuy quy mô nhỏ và c̣n nhiều hạn chế nhưng với số lượng đông nên sự đóng góp của các cơ sở cho nền kinh tế là rất đáng kể. Hiện nay, các cơ sở đang sử dụng một lực lượng lao động lớn, tính đến tháng 10/2005 là 5,58 triệu lao động. Trung b́nh mỗi năm, khu vực này tạo thêm 250 ngàn chỗ là mới. Tính chung cả giai đoạn 2001 - 2005, các cơ sở đă đóng góp 1/5 trong thành tích tạo 5 triệu việc làm mới. Bên cạnh đó, các cơ sở là nơi tiếp nhận một phần lao động dôi dư trong quá tŕnh sắp xếp lại DNNN cũng như chuyển đổi sản xuất nông nghiệp.

Đáng chú ư, tính đến 1/10/2004, tổng tài sản của các cơ sở đă chiếm 18% GDP với giá trị cụ thể khoảng 127.395,4 tỷ đồng. Giá trị tăng thêm của các cơ sở cũng chiếm 18% GDP cả nước. Con số thống kê năm 2004, tổng doanh thu của các cơ sở trên cả nước là 349.596 tỷ đồng, 2005 là 349.606 tỷ đồng, b́nh quân doanh thu đạt 120 triệu đồng/cơ sở và 70 triệu đồng/lao động. Đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh bán lẻ các cơ sở đă chiếm đến 60% doanh thu hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của toàn xă hội. Đóng góp vào ngân sách của các cơ sở cũng  liên tục tăng. Năm 2005, nguồn thu từ các cơ sở  đă chiếm khoảng 55% nguồn thu từ khu vực dân doanh.

Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, các cơ sở  tham gia hoạt động ở hầu hết các ngành kinh tế quốc dân như: ngành sản xuất – dịch vụ truyền thống và cả lĩnh vực kinh doanh mới trong nền kinh tế thị trường. Các cơ sở có mặt trên mọi vùng kinh tế, các khu vực nông thôn và thành thị... Điều này có ư nghĩa lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển nhiều mặt xă hội khác.

Chưa được để ư nhiều

Mặc dù trong báo cáo mới nhất của ḿnh, Tổng cục Tống kê đă cung cấp nhà nhiều những con số về hiện trạng của các cơ sở. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Liên, Vụ trưởng Vụ Thương mại - Dịch vụ - giá cả thừa nhận: những thông tin về khu vực này hiện rất nghèo nàn, thiếu tính hệ thống và không nhất quán. Đây chính là một nguyên nhân làm hạn chế sự quan tâm đến khu vực này.

Soạn: AM 841845 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Nhiều chính sách hỗ trợ mới hướng đến các DN mà bỏ quên các cơ sở SX - KD cá thể.

Trong khi đó, theo ông Đỗ Tiến Thịnh - Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, môi trường pháp lư kinh doanh đối với khu vực kinh tế cá thể đă được thay đổi rất nhiều, khuyến khích phát khu vực kinh tế cá thể, hộ gia đ́nh này càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, cho đến Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn chưa thực sự coi trọng việc chính thức hoá bằng Luật đối với việc thành lập, hoạt động kinh doanh và giải thể của các cơ sở kinh doanh cá thể.

V́ vậy, cách tiếp cận khái niệm cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể vẫn chưa thống nhất trong tên gọi và tiêu chí xác định. Ông Thịnh đă ra trong 1 loạt các Luật quan trọng như: Luật Thương mại, Cạnh Tranh, Doanh nghiệp và 1 số luật thuế khác... mỗi luật lại có những điểm khác nhau trong thuật ngữ và các tiếp cận liên quan đến cơ sở sản xuất cá thể. Đến nay, khu vực này vẫn chưa có tổ chức độc lập đại diện quyền lợi riêng cho ḿnh. Điều này sẽ gây ra khó khăn trong việc xây dựng và thực hiện các biện pháp khuyến khích thành phần này phát triển.

Bà Nguyễn Thị Liên cũng cho rằng, trong cộng đồng sản xuất kinh doanh Việt Nam, các cơ sở không được coi là DN và bị tách khỏi cộng đồng DN Việt Nam. Trong khi đó, hầu hết các chính sách đều chủ yếu hướng tới chủ thể kinh doanh là DN. Do vậy, đến nay nước ta vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch và chiến lược phát triển và chính sách ưu đăi đầu tư cho các cơ sở như đă thực hiện với các DN.

V́ vậy, điều cần thiết lúc này là chính thức hoá hơn nữa về mặt pháp lư cho các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, để từ đó xây dựng các chính sách phát triển thành phần kinh tế. Không thể một nguồn nội lực lớn của đất nước lại thiếu chính sách để phát triển.

Hơn thế, bà Liên cho rằng, các cơ sở được xem là tiền đề, bước đệm cho khu vực DN hiện nay cũng như trong tương lai. Bà Liên đưa ra quan điểm, nếu mỗi cơ sở này được xem là 1 DN siêu nhỏ th́ năm 2005 cả nước ra có trên 3 triệu DN đang hoạt động và đến cuối năm 2005, b́nh quân 26,2 nguời dân có 1 DN. Trong khi đó nếu chỉ tính số DN hoạt động theo Luật DN th́ 723 người dân mới có 1 DN. 

Hiện nay, nước ta đang đặt mục tiêu có 500 ngàn DN có chất lượng vào 2010. Và một trong những cách đi nhanh và hiệu quả nhất là tạo điều kiện để các cơ sở phát triển trở thành doanh nghiệp. 

  • Phước Hà