Singapore là nước đã
bứt phá ngoạn mục từ kém phát triển lên tiên tiến trong thời gian 3-4
thập kỷ, nhờ chủ yếu đã biết chăm lo giáo dục từ sớm. Cho nên lời khuyên
của họ có trọng lượng thuyết phục hơn cả mọi lý thuyết. Phải nói rằng
chúng ta cũng đã có những nhà lãnh đạo sáng suốt nhìn nhận tầm quan
trọng “quốc sách hàng đầu” của việc phát triển giáo dục, khoa học và
công nghệ. Song thực tế nhiều năm qua cho thấy không dễ gì đưa được quan
điểm ấy vào cuộc sống. Trong khi các văn kiện, nghị quyết nhấn mạnh quan
điểm ấy, thì nhiều chính sách thực tế liên quan giáo dục và khoa học đều
thể hiện tinh thần ngược lại. Hy vọng lần này tác dụng cộng hưởng của
hai ý kiến trên của hai chính khách Việt Nam và Singapore sẽ làm thức
tỉnh quan chức ở mọi ngành để có quyết tâm cao hơn góp sức chấn hưng
giáo dục và khoa học vì sự phát triển của đất nước.
1. Cần
một tầm nhìn chiến lược. Muốn vực giáo dục và khoa học lên, vấn
đề đầu tiên không phải là “tiền đâu”. Thật sự nguyên nhân chính của sự
suy thoái giáo dục, khoa học không phải do thiếu tiền mà do ta không
biết cách làm, cách quản lý. Giáo dục, khoa học là một hệ thống phức
tạp, chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ các đặc thù hệ
thống của nó, và chú ý kinh nghiệm của thế giới và các thế hệ đi trước.
Điều quan trọng trước hết là phải có một tầm nhìn chiến lược về mục tiêu
trước mắt và lâu dài, hướng đi, nhu cầu, khả năng trong xu thế phát
triển, tư tưởng chỉ đạo, đường lối tổng quát, cũng có thể gọi là triết
lý làm giáo dục, khoa học thời nay, trong thế giới này. Thiếu một tư duy
hệ thống, một tầm nhìn chiến lược bao quát thì dễ sa vào sự vụ, nay thế
này mai thế khác, “cải cách” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không
nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều mà kết quả chỉ là làm rối thêm một hệ
thống vốn đã què quặt, không có sinh khí. Thế giới ngày nay biến chuyển
mau lẹ, xây dựng giáo dục và khoa học trong thế giới đó đòi hỏi những
người lãnh đạo không chỉ có tâm trong sáng và trung thực mà còn phải đủ
tầm nắm bắt nhanh nhạy những biến chuyển đó và có khả năng suy nghĩ sáng
tạo để tìm ra chiến lược phát triển thích ứng nhất.
Được điểm 10- Trần Thế Long |
2.
Một lỗi hệ thống cần sửa. Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm
chính hơn trong lĩnh vực giáo dục, khoa học. Một nền giáo dục, khoa
học đã thiếu vắng các đạo đức cơ bản ấy tất nhiên hoạt động không bình
thường và sớm muộn lâm vào bế tắc. Khi đó chỉ bằng những điều chỉnh
cục bộ theo cơ chế phản hồi trong điều hành không cứu nổi hệ thống, mà
phải tìm cho ra các lỗi hệ thống và sửa các lỗi đó mới mong đưa được
hệ thống ra khỏi khủng hoảng. Vậy cái lỗi hệ thống gì khiến cho giáo
dục, khoa học của ta thiếu cần, thiếu kiệm và thiếu cả liêm, chính?
Câu hỏi này đặt ra không chỉ cho giáo dục, khoa học mà cho cả bộ máy
nhà nước ta. Chính vì cái lỗi hệ thống đó nên cuộc chiến chống tham
nhũng cho đến nay vẫn chưa thành công.
Mấu chốt nằm ở nghịch lý
lương/thu nhập: lương chỉ bằng một phần nhỏ thu nhập ngoài lương, thì
đương nhiên người lao động giáo dục, khoa học phải dồn phần lớn tâm
trí, khả năng để kiếm thu nhập ngoài lương, mà phần này thì phân phối
tùy tiện, bất công, không có kiểm toán chặt chẽ, cho nên là nguồn gốc
nhiều sự tiêu cực mà ai cũng biết. Vì sao nói đó là lỗi hệ thống? Vì
nó chi phối, làm méo mó mọi quan hệ trong hệ thống. Đến mức bây giờ dù
có tăng lương cho đủ sống mà không sửa cái lỗi hệ thống đó thì cũng
chẳng thay đổi được tình hình. Thậm chí lỗi hệ thống đó đã sản sinh ra
những quan hệ vận hành lâu ngày trở thành một phần cấu trúc của hệ
thống nên ngay khi đã sửa lỗi đó rồi cũng phải đợi một thời gian và có
thể phải sửa thêm một số lỗi hệ thống khác nữa mới đưa được hệ thống
về hoạt động bình thường.
Dù sao, giải tỏa cái nghịch lý
lương/thu nhập là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cần, kiệm, liêm,
chính và do đó nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục, khoa học.
Tôi dám cam đoan còn tồn tại nghịch lý đó thì giáo dục, khoa học còn
hư hỏng. Mà giải tỏa cái nghịch lý đó hoàn toàn khả thi về tài chính,
nhưng đương nhiên khó khăn tư tưởng khá lớn vì nó đụng chạm đến một bộ
phận khá đông quan chức được hưởng lợi từ cách quản lý thiếu minh bạch
này. Chung quy vấn đề là ta có thật sự muốn xây dựng một nền giáo dục,
khoa học lành mạnh hay không, đó chính là câu hỏi phải trả lời trung
thực.
3. Tư duy toàn cầu. Muốn thắng cuộc
trong thế giới toàn cầu hóa, tất nhiên mọi suy nghĩ và hành động đều
phải chú ý tới luật chơi chung. Phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn
mực quốc tế trong mọi lĩnh vực hoạt động thì mới có thể hợp tác và
cạnh tranh được. Tiếc thay, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn
giáo sư, tiêu chuẩn đánh giá trình độ một công trình khoa học, một nhà
khoa học, một trường đại học, chúng ta đều có tiêu chuẩn riêng chẳng
giống ai. Có những công trình khoa học, những luận văn tiến sĩ của ta
ngay cả về những ngành học thuật có tính quốc tế như khoa học cơ bản,
kinh tế, v.v..., nếu xét theo tiêu chuẩn thông thường ở các nước thì
thậm chí chỉ là những mớ giấy lộn. Đội ngũ GS của ta thì nhiều người
hữu danh vô thực, số khá đông dưới xa chuẩn mực quốc tế bình thường
nhất. Oái ăm là trong khi đó nhiều người có năng lực xứng đáng, nhất
là người trẻ, lại bị loại vì không đạt các tiêu chuẩn vớ vẩn, không
giống ai, của ta. Chẳng lạ gì có những ông A bà B trong nước được coi
là nhà khoa học nổi tiếng mà trên quốc tế hoàn toàn vô danh. Thời gian
gần đây lại xuất hiện ngay trong hàng ngũ các quan chức hàng loạt viện
sĩ “hữu nghị”, viện sĩ “chạy”, viện sĩ “mua”, hoàn toàn không xứng với
danh hiệu mà nhiều người vẫn tưởng là dành cho những tài năng lỗi lạc.
Chuẩn mực xô bồ như vậy mà ngày nọ tôi còn thấy môt vị lãnh đạo của
Hội đồng Chức danh GS tuyên bố trên báo rằng GS... phải là người xây
dựng được trường phái học thuật của mình(!). Thật tình tôi không biết
cái gọi là trường phái học thuật đó có gì chung với khái niệm trường
phái học thuật theo cách hiểu thông thường ở các nước. Với chuẩn mực
khác người như vậy, làm sao có thể hội nhập quốc tế dễ dàng được..
Cái nguy hại của việc huênh hoang bất chấp các chuẩn mực quốc tế là ta
tự lừa dối ta quá dễ dàng, cuối cùng thật giả lẫn lộn, chẳng còn sự
phân biệt nào giữa người có năng lực thật và những kẻ bất tài. Các
chức danh GS, PGS ở Việt Nam bây giờ quá rẻ, đến độ khi bàn về nhân
tài mà nêu GS nọ GS kia, nhiều người nghe cũng đủ ớn.
4. Trách nhiệm cộng đồng. Kinh tế tri thức thực chất là nền
kinh tế dựa vào chất xám và tài năng. Cho nên công cuộc hội nhập muốn
thành công phải coi trọng đặc biệt vấn đề thu hút nhân tài. Đã từ
nhiều năm Nhà nước hô hào người Việt thành tài ở nước ngoài về nước
làm việc. Chủ trương đó rất đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên sự thực
thì vấp phải quá nhiều rào cản, mà rào cản lớn nhất là chủ trương
chung thì thoáng nhưng đi vào cụ thể thì còn nhiều chính sách rất bí.
Từ cấp lãnh đạo cao đến người dân chưa phải ai cũng đã thật sự thông
suốt với chủ trương này.
Chẳng hạn các cơ quan quan trọng như Bộ
Tài chính, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ đều có nhiều quy định kỳ lạ,
thể hiện những quan niệm rất bảo thủ và lạc hậu hoàn toàn không đếm
xỉa gì đến những yêu cầu tối thiểu về điều kiện làm việc cho các nhà
khoa học. Một vài ví dụ: theo quy định của bộ Tài Chính, tiêu chuẩn
không gian nơi làm việc cho giáo sư thấp hơn cả trưởng phó phòng hành
chính, giáo sư phải chen chúc nhiều người trong một phòng chật hẹp,
tìm đâu có chỗ để nghiên cứu, thảo luận, gặp gỡ giúp đỡ sinh viên.
Tiền thù lao giờ giảng thì phụ thuộc chức vụ hành chính một cách lố
bịch (Thứ, Bộ trưởng được thù lao giờ giảng cao hơn hẳn GS, PGS). Xếp
ngạch bậc lương thì GS bậc cao nhất cũng chưa bằng chuyên viên cao cấp
bậc thấp nhất, và số bậc nhiều đến mức phần lớn nhà khoa học giỏi làm
việc nghiêm túc đến khi nghỉ hưu vẫn chưa leo lên được đến bậc cuối
cùng, trừ khi tuổi hưu được gia hạn đến... 90 hay 100.
Hôm nọ
tôi thấy trên báo còn có độc giả phát biểu: những người được đi học
thành tài ở nước ngoài chưa đóng góp được gì cho Tổ quốc mà đòi hỏi
điều kiện đãi ngộ này nọ là không ổn. Ai dám bảo ý kiến đó sai, nhưng
sao mà nó giống với ý kiến: giáo sư là gì mà đòi hỏi buồng riêng,
hoặc: anh là nhà khoa học Việt kiều, đã sống sung túc bao nhiêu năm,
bây giờ về nước công tác sao còn đòi hỏi ưu đãi nọ kia. Với những quan
niệm như thế thì thôi xin đành gác lại chủ trương thu hút người tài,
và lùi cái thời hạn đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu sang
thế kỷ 22 hoặc sau nữa.
5. Tư duy tốc độ.
Để hội nhập thành công trong thế giới ngày nay, không chỉ cần hiệu quả
mà còn cần tốc độ, hay nói đúng hơn đáp ứng nhanh trở thành một lợi
thế đáng kể trong kinh doanh, nhiều khi còn quan trọng hơn hiệu quả.
Số là, cho đến gần đây, tiêu chí hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh là
hiệu quả và thông thường các hãng tập trung vào dự đoán nhu cầu của
khách hàng và tăng hiệu quả đồng vốn. Logic kinh doanh đó thích hợp
khi thị trường ổn định và thay đổi chậm. Nhưng ngày nay, khi thị
trường khó tiên liệu và thế giới biến chuyển nhanh chóng mặt, thì cái
logic ấy không còn thích hợp mà phải nhường chỗ cho một logic mới đặt
ưu tiên vào khả năng thích ứng mau lẹ nhiều hơn là hiệu quả. Trước kia
cặm cụi “làm-ra-và-tiêu-thụ” – make-and-sell thì bây giờ phương châm
hoạt động là thường xuyên “nắm-bắt-và-ứng-đáp” – sense-and-respond.
Tốc độ, khả năng thích ứng mau lẹ trở thành yêu cầu tối quan trọng,
nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội.
Trong cái thế giới đổi thay cực
nhanh này, khó ai chấp nhận kiểu làm việc lề mề, chậm chạp như chúng
ta. Cải cách hành chính hơn mười năm chưa thấy kết quả gì, chỉ thấy
làm rối thêm một số việc đơn giản. Nhiều lỗi hệ thống là nguyên nhân
chủ yếu sinh ra tham nhũng, quan liêu, lãng phí tràn lan, nhưng vẫn cứ
tồn tại năm này qua năm khác. Kỳ họp Quốc hội nào cũng lên án mạnh mẽ
tham nhũng, thế mà rồi cái quốc nạn ấy không hề bị đẩy lui. Ngay cái
tập quán phong bì là nét văn hóa đáng xấu hổ của xã hội ta mà hàng
chục năm rồi vẫn ngang nhiên tồn tại, thậm chí văn phòng một cơ quan
đầu não còn làm gương xấu. Giáo dục, khoa học trì trệ, trong lúc chất
xám bị sử dụng hết sức lãng phí. Năm này qua năm khác, hội thảo đi rồi
hội thảo lại không biết bao nhiêu lần mà vẫn không có được một chính
sách cụ thể khả dĩ đem lại chút niềm tin trong vấn đề này. Bàn đi tính
lại mãi chuyện khuyến khích tài năng, cuối cùng chỉ làm được mỗi
việc là ghi tên các thủ khoa đại học vào bảng vàng để ở Văn Miếu!
Từ hơn mười năm về trước đã có biết bao đề nghị hợp lý về cải cách,
chấn hưng giáo dục, từ việc đào tạo tiến sĩ, công nhận GS, PGS, đến
nhiều việc cụ thể khác về thi cử, phân ban, tuyển sinh, tự chủ đại
học,v.v. có thể nói không có vấn đề gì thiếu những đề nghị cải cách cụ
thể, nhưng mãi đền gần đây một số những đề nghị ấy mới bắt đầu được
nghiên cứu. Cải cách quản lý luôn là những chủ đề nóng của giáo dục và
khoa học, nhưng cũng không có lĩnh vực nào đổi mới chậm chạp hơn giáo
dục và khoa học. Ngay gần đây nhất cái ý tưởng hay lập một đại học
đẳng cấp quốc tế, từ lúc được Thủ Tướng chấp nhận và nêu ra, được
nhiều nhà khoa học Mỹ nhiệt tình ủng hộ, đến nay đã gần hai năm vẫn
chưa thấy hình hài rõ ràng. Anh bạn tôi kể lại trong khi đó Thủ tướng
Trung Quốc vừa sang thăm một nước Phương Tây, thỏa thuận với họ cho
một đại học nổi tiếng mở chi nhánh ở Bắc Kinh thì chỉ mấy tháng sau họ
đã chiêu sinh. Cơ hội gì cũng chỉ trong thời gian nào đó, có bao giờ
là vĩnh viễn.
Sống trong thời đại internet, tên lửa vũ trụ, điện
thoại di động, mà cứ giữ nếp tư duy chậm chạp và làm việc rùa bò thì
mọi thời cơ bay đi hết. Không ai đủ kiên nhẫn chờ chúng ta. Thời đại
công nghệ thông tin vừa mới bắt đầu chưa lâu la gì thì nay họ đã bàn
chuyển qua thời đại công nghệ nano, chưa biết rồi sẽ còn những gì bất
ngờ nữa đây để liệu mà vừa làm vừa nghĩ vừa chạy, vẫn không kịp
“sense-and-respond”.
Ảnh trên cùng: Thế hệ tương lai- Nguyễn Thị Sin