 |
| Sinh
viên Đại học Kinh tế TPHCM trong một giờ thảo luận trên lớp. |
Chủ
trương xây dựng đại học đẳng cấp cao và thí điểm cổ phần hóa một số
trường đại học đã được Chính phủ công bố. Tuy nhiên đây là vấn đề khó và
mới nên rất cần những ý kiến đóng góp cũng như các phản biện khoa học
cho chủ trương này. TBKTSG xin giới thiệu ý kiến của Giáo sư Trần Nam
Bình, Đại học
New
South Wales
(Úc) về vấn đề này.
Cổ phần hóa
theo phương án nào?
Tuy Chính phủ đã nói
tới phương án cổ phần hóa đại học, nhưng mọi việc vẫn trong vòng thăm dò
ý kiến và chưa có đề xuất cụ thể nào. Tại Việt
Nam,
cụm từ cổ phần hóa thường được dùng cho các công ty quốc doanh. Trong
trường hợp đại học, cổ phần hóa có ba phương án sau đây:
1.
Bán toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, sách
vở... cho tư nhân, tổ chức tư nhân (tức là tư thục hóa 100%) hay tổ chức
công;
2.
Bán một phần tài sản của đại học cho tư nhân, tổ chức tư nhân hay tổ
chức công;
3.
Kêu gọi tư nhân,
tổ chức tư nhân hay tổ chức công góp vốn đầu tư phát triển trường sở và
nhân lực đại học (thí dụ như xây dựng cơ sở vật chất hay trang bị mới)
với mục đích kiếm lợi nhuận.
Bài này chỉ tập trung
vào các nhà đầu tư giáo dục tư nhân.
Tư thục hóa 100% đại
học, cao đẳng là biện pháp chưa một nước nào trên thế giới thử nghiệm.
Tuy cổ phần hóa theo hai phương thức sau khả thi hơn, nhưng vẫn có nhiều
vấn đề cần bàn. Hai câu hỏi cần đặt ra ngay khi cổ phần hóa theo phương
án thứ 2 và 3 là:
a. Tư nhân sẽ mua cổ
phần một lần hay đóng góp định kỳ; hay vừa mua cổ phần vừa đóng góp định
kỳ?
b. Cổ đông sẽ là
những nhà đầu tư gián tiếp hay trực tiếp? Trong
trường hợp đầu tư trực tiếp, với những điều kiện nào các cổ đông có thể
tham gia vào ban lãnh đạo đại học?
Các trở ngại
khi cổ phần hóa đại học
Cổ phần hóa đại học
rất khó khăn và đầy rủi ro vì hai lý do: giáo dục không phải là một dịch
vụ bình thường và đại học không phải là một doanh nghiệp bình thường.
Dùng thuật ngữ kinh tế, nếu coi đại học là một đơn vị sản xuất, giá thị
trường không phản ánh đúng giá xã hội của đại học. Các vấn đề phát sinh
trong thực tiễn khi cổ phần hóa đại học cần được giải quyết gồm :
• Tư cách pháp nhân
của tổ chức đứng ra phát hành cổ phiếu là ai? Bộ Giáo dục và Đào tạo hay
các trường đại học?
• Trong trường hợp cổ
phần hóa theo phương án 2, làm sao đánh giá tài sản của trường
đại học vì một phần không nhỏ tài sản ở dạng vô hình (thí dụ như
uy tín đại học)? Do đó, có nguy cơ tài sản của
trường đại học bị bán với giá thấp hơn trị giá thật.
• Một khó khăn tương
tự là dùng phương pháp kế toán nào để tính lợi nhuận của các đại học và
để chia lời lỗ cho các cổ đông? Chúng ta có thể
thấy ngay sự va chạm, xung đột giữa các thành viên đại diện nhà nước và
các cổ đông trong việc này.
• Chính phủ có tiếp
tục tài trợ các đại học đã cổ phần hóa hay không và, nếu có, theo công
thức nào?
Cổ phần hóa
đại học - có cần không?
Xã hội hóa đại học,
nâng cao chất lượng giáo dục và làm tăng hiệu quả quản trị thường được
xem là ba lập luận chính cho chủ trương cổ phần hóa đại học. Nếu tư nhân
góp vốn thêm vào nguồn lực công của Nhà nước thì trên nguyên tắc khu vực
đại học sẽ có khả năng thu nhận nhiều sinh viên hơn, với điều kiện Chính
phủ tiếp tục duy trì ngân sách cho đại học như hiện nay. Một số sinh
viên với khả năng tài chính cao, sẽ ghi danh học các trường đại học cổ
phần hóa, giải tỏa phần nào áp lực cho các đại học công còn lại. Các
sinh viên khác, nhất là sinh viên nghèo, sẽ được hưởng thành quả của cổ
phần hóa đại học nếu học phí đại học công duy trì như hay giảm hơn mức
hiện nay. Nếu Chính phủ giảm ngân sách cho đại học hay tăng học phí đại
học công thì cổ phần hóa đại học có thể làm tăng bất công xã hội trong
giáo dục, và do đó đi ngược lại mục đích của xã hội hóa giáo dục.
|
Một lập luận khác là nếu không cổ phần
hóa làm sao nâng cao chất lượng? Đồng ý là cổ phần hóa sẽ giúp hiện
đại hóa đại học nhanh hơn, nhất là về cơ sở vật chất và thiết bị.
Nhưng tất cả mọi người đều biết chất lượng giáo dục tùy thuộc chủ
yếu vào đội ngũ giáo viên. Để giảm chi phí, chưa chắc một đại học cổ
phần hóa muốn trả lương giáo viên cao hơn các đại học công. Dù có
trả nhiều hơn, sự khác biệt sẽ không đủ để các giáo viên của đại học
cổ phần hóa tập trung vào công tác giảng dạy và nghiên cứu. Nếu đại
học cổ phần hóa trả lương cao hơn đại học công, một vấn đề tế nhị
khác là làm sao ấn định mức lương tương xứng với khả năng và đóng
góp chuyên môn của từng giáo viên. Về phương diện học thuật, cổ phần
hóa đại học có thể gây ra xu hướng thiên về giảng dạy và nghiên cứu
có ứng dụng thương mại.
Cổ phần hóa đại học cũng thường được xem
là một cách cải tổ phương thức tổ chức và quản lý thiếu linh động và
kém hiệu quả của các đại học công hiện nay. Thật ra, nếu Chính phủ
vẫn giữ cổ phần chi phối, thì đại học cổ phần hóa vẫn bị trói buộc
bởi các hệ thống tổ chức và cơ chế lạc hậu, xơ cứng hiện hữu. Không
những thế, sự có mặt của một số cổ đông lớn trong hội đồng quản trị
còn có thể gây ra bất đồng giữa mục đích lợi nhuận và các giá trị
truyền thống của đại học. Vấn đề tổ chức và quản trị sẽ được trở lại
trong một phần sau của bài này. Nếu các nhà
đầu tư giáo dục muốn kiếm siêu lợi nhuận thì cổ phần hóa đại học có
thể gây áp lực làm tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, kể cả các sinh
viên chưa đủ trình độ. Những hiệu quả (= chi phí/sinh viên tốt
nghiệp) giả này gửi các tín hiệu lộn xộn và nguy hại cho thị trường
giáo dục và lao động.
Đâu là giải pháp?
Trong việc cải tổ đại học, nguồn vốn
thường được xem là một vấn đề vướng mắc lớn nhất. Chúng ta có thể
tạm chấp nhận rằng trong giáo dục đại học Việt
Nam
hiện nay số cầu vượt quá số cung. Nhưng chúng ta cũng cần đặt hai
câu hỏi: (i) số cầu này có dựa trên kỳ vọng thực tế của học sinh tốt
nghiệp THPT hay không? và (ii) có thể làm số cung tăng lên với nguồn
lực công hiện hữu không? Nếu không, biện pháp nào là tốt nhất trong
việc làm tăng nguồn lực dành cho đại học? Về câu hỏi (i), có lẽ một
phần các học sinh muốn ghi danh đại học sẽ cảm thấy thoải mái và
thành công hơn trong môi trường cao đẳng. Đây là một khía cạnh của
chính sách giáo dục mà Nhà nước cần quảng bá và phát triển hơn. Cần
tích cực giúp học sinh có cái nhìn thực tế hơn trong việc lựa chọn
hướng đi sau khi tốt nghiệp trung học.
Về câu hỏi (ii), nhiều nhà bình luận cho
rằng ngân sách giáo dục hiện được sử dụng một cách lãng phí, thiếu
minh bạch và kém hiệu quả. Như vậy, việc đầu tiên là phải tìm cách
chấn chỉnh hiệu năng đại học công trước khi nghĩ đến việc cổ phần
hóa. Nếu quả thật nguồn lực công không đủ đáp ứng yêu cầu dù đã được
sử dụng một cách hiệu quả, thì thay vì cổ phần hóa Nhà nước có thể
huy động các nguồn vốn khác như sau:
• Vay ODA với lãi suất thấp từ nước
ngoài hay các tổ chức quốc tế.
• Vay tư nhân hay tổ chức tư nhân trong
nước qua hệ thống nhà băng bưu điện (với lãi suất cao hơn bình
thường chút ít và tiền lãi miễn thuế thu nhập).
• Cho phép thành lập các trường đại học
tư 100% vốn với một số ưu đãi dài hạn về đất đai và thuế.
• Thiết lập vài trường đại học công mới
bằng cách liên kết và tái tổ chức các viện nghiên cứu hiện tại.
Nếu Chính phủ vì lý do nào đó phải cổ
phần hóa đại học, thì cổ phần hóa một số trường chuyên ngành như
công nghệ thông tin (CNTT) là ít rủi ro hơn cả vì các lý do sau đây:
- CNTT là một khu vực mà số cầu vượt số
cung có lẽ nhiều nhất. Các sinh viên ngành này sẵn sàng trả học phí
cao hơn với kỳ vọng sẽ dễ kiếm được việc làm với số lương xứng đáng
sau khi tốt nghiệp.
- Nguy cơ lạm phát bằng cấp tương đối
thấp hơn các môn khác vì các nhà thuê mướn có thể đo lường chất
lượng giáo dục và đào tạo của CNTT trực tiếp và dễ dàng hơn các môn
khác.
- CNTT là một bộ môn mà đại học có thể
thiết lập liên kết cụ thể với các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp
nước ngoài.
- CNTT là một ngành mũi nhọn cần phát
triển và hiện đại hóa sớm và nhanh nhất.
Ngoài ra, CNTT còn đóng vai trò hậu cần cho việc phát triển các bộ
môn đại học khác.
Một cách làm tăng hiệu quả đại học khả
thi nhất là cải tổ hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đại học công.
Về việc này Chính phủ Việt
Nam
có thể tham khảo các mô hình đại học công của các quốc gia tiên
tiến, nhất là các nước nói tiếng Anh như Mỹ,
Anh,
Canada,
Úc... Các mô hình này thường có các đặc
điểm chính sau đây:
- Nhà nước chỉ đóng vai trò chỉ đạo về
chính sách và can thiệp gián tiếp qua ngân sách dành cho đại học
(tổng số ngân sách, mô hình tài trợ...).
- Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành
với sự giám sát của hội đồng quản trị. Thành viên của hội đồng quản
trị bao gồm các viên chức đại diện chính phủ, giới lãnh đạo đại học,
đại biểu nhân viên, sinh viên (chưa hoặc đã tốt nghiệp) và doanh
nghiệp. Các thành viên độc lập này làm việc cho hội đồng không ăn
lương. Họ có kinh nghiệm và khả năng chuyên môn trong các lĩnh vực
tài chính, quản trị doanh nghiệp, luật pháp, lãnh đạo, quản lý, kế
hoạch và phát triển. Hội đồng quản trị tiêu biểu cho hệ thống kiểm
soát và cân bình cho đại học.
- Đại học có quyền tự chủ trong các lĩnh
vực tài chính (chi tiêu, trả lương, ấn định ngân sách cho từng
khoa...), hoạt động (hành chính, giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn...),
nhân sự (mướn và sa thải nhân viên, lương bổng, trách nhiệm, kỷ
luật...) và phần nào trong việc tuyển sinh.
Quyền tự chủ này được phân phối xuống từng khoa, ban trong trường.
- Đại học đa ngành: một đại học đa ngành
thật sự sẽ hoạt động hiệu quả vì có thể xóa bỏ các hoạt động trùng
lặp và làm gia tăng sự chọn lựa môn học của sinh viên.
Tóm lại, để phát triển và hiện đại hóa
đại học, Chính phủ Việt Nam có thể xúc tiến các biện pháp ngắn hạn
sau: cải tổ hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đại học; thành lập
một vài đại học công mới từ các viện nghiên cứu; cho phép thành lập
đại học tư thục 100%; mượn vốn từ các nguồn ODP và tư nhân trong
nước, và giới hạn việc cổ phần hóa, nếu cần thiết, vào một vài đại
học công nghệ. Tuy nhiên về lâu dài, vấn đề chính vẫn là phát huy và
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đại học.
|
Để phát
triển và hiện đại hóa đại học, Chính phủ Việt Nam có thể xúc
tiến các biện pháp ngắn hạn sau: cải tổ hệ thống tổ chức và cơ
chế quản lý đại học; thành lập một vài đại học công mới từ các
viện nghiên cứu; cho phép thành lập đại học tư thục 100%; mượn
vốn từ các nguồn ODA và tư nhân trong nước, và giới hạn việc
cổ phần hóa, nếu cần thiết, vào một vài đại học công nghệ. |
|
|