 |
| Môi
trường kinh doanh không b́nh đẳng đă ḱm hăm sức phát triển của các
doanh nghiệp tư nhân. |
Các
chuyên gia tham dự hội thảo về giải pháp giúp doanh nghiệp trong nước
nâng cao khả năng cạnh tranh, do Chương tŕnh giảng dạy kinh tế
Fulbright tổ chức vào đầu tuần này tại TPHCM, đều cho rằng hệ thống luật
pháp c̣n nhiều bất cập là một trong những yếu tố quan trọng hạn chế sự
trưởng thành của doanh nghiệp.
Tấn Đức
Mới phát triển mạnh
về số lượng
Chỉ sau hơn sáu năm kể
từ khi Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 có hiệu lực, gần 160.000
doanh nghiệp mới đă ra đời, nhiều gấp bốn lần so với tổng số đơn vị phát
triển được suốt trong 10 năm trước đó. Tuy nhiên, sự phát triển trong
thời gian vừa qua chủ yếu là về số lượng, trong khi quy mô của hầu hết
doanh nghiệp c̣n rất nhỏ với trên 95% thuộc loại nhỏ và vừa theo tiêu
chuẩn Việt Nam (vốn đăng kư không quá 10 tỉ đồng và có số nhân viên
không nhiều hơn 300 người).
Tiến sĩ Phạm Duy
Nghĩa, Giảng viên khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nói : “Luật
Doanh nghiệp năm 1999 tạo điều kiện dễ dàng cho nhà đầu tư gia nhập thị
trường, giảm chi phí và thời gian đăng kư thành lập, nhưng nó chưa giúp
họ có thể phát triển từ cơ sở kinh doanh nhỏ thành những doanh nghiệp
lớn”.
Ngay từ năm 1992, Việt
Nam đă đưa vào Hiến pháp quy định bảo hộ quyền tự do kinh doanh của
người dân, nhưng măi đến năm 1999, quy định này mới được thể chế hóa
bằng một đạo luật. Nhưng luật này cũng chưa thể giải quyết hết những rào
cản nảy sinh trong suốt quá tŕnh hoạt động của doanh nghiệp. “Sau niềm
vui ngắn ngủi với thuận lợi về đăng kư kinh doanh, là những ngày dài xin
con dấu, mă số thuế và chiều ḷng các quan chức. Chi phí gia nhập thị
trường có giảm, nhưng ṿng cương tỏa qua giấy phép con, giấy phép cháu
cùng những điều kiện kinh doanh vẫn c̣n chằng chịt”, ông Nghĩa nói.
Chưa công bằng
Một trong những yếu tố
quan trọng ḱm hăm sức phát triển của khu vực tư nhân là những quy định
đối xử chưa b́nh đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà
nước. Năm 2005, Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp mới áp dụng chung
cho các loại h́nh doanh nghiệp, với hy vọng tạo môi trường kinh doanh
b́nh đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Lê Đăng
Doanh, cố vấn cao cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư : “Chỉ với Luật Doanh
nghiệp th́ không thể bảo đảm có môi trường cạnh tranh b́nh đẳng theo
đúng nghĩa. V́ vẫn c̣n nhiều luật, quy định khác, kể cả những luật bất
thành văn, mà khối doanh nghiệp nhà nước có thể dựa vào để giành lấy ưu
thế cho ḿnh”.
Theo ông Doanh, lợi
thế lớn nhất của doanh nghiệp nhà nước là có cơ quan chủ quản, do mối
quan hệ giữa hai chủ thể này khá gần gũi. Hơn nữa, trong quá tŕnh kinh
doanh, doanh nghiệp thường dựa vào mối quan hệ nhiều hơn là hệ thống
luật pháp. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của doanh
nghiệp nhà nước và một số đơn vị có vỏ bọc tư nhân nhưng thực chất là
“sân sau” của một số cán bộ có chức, có quyền.
Thế mạnh thứ hai của
các doanh nghiệp nhà nước là quy hoạch ngành. Về h́nh thức, quy hoạch do
các bộ ban hành, nhưng nó lại được soạn thảo bởi các tổng công ty nhà
nước. “Họ đă đưa vào quy hoạch những quy định để hạn chế người khác nhằm
tạo thuận lợi cho ḿnh. Chẳng hạn bản quy hoạch phát triển ngành xi măng
quy định không cho nước ngoài đầu tư vào dự án xi măng mới trước cuối
năm 2008”, ông Lê Đăng Doanh nói.
Ngoài ra, quốc doanh
c̣n được nhiều ưu ái về đất đai, tín dụng, quyền khai thác tài nguyên.
Theo ông Doanh, các nông trường quốc doanh hiện đang kiểm soát đến 25%
diện tích đất nông nghiệp của quốc gia, nhưng chỉ tạo ra khoảng 1% tổng
sản phẩm trong nước (GDP). C̣n về tài chính, một số giảng viên của
Chương tŕnh giảng dạy kinh tế Fulbright đă thống kê được, chỉ trong
ṿng 10 năm, từ 1994-2003, Nhà nước đă trợ cấp cho doanh nghiệp nhà nước
60.000-70.000 tỉ đồng thông qua việc khoanh nợ, dăn nợ, xóa nợ, cấp tín
dụng ưu đăi... Tổng lợi nhuận của khối này khoảng 150.000 tỉ đồng và
thuế thu nhập doanh nghiệp nộp cho Nhà nước trên dưới 60.000 tỉ đồng.
Tuy nhiên, con số lợi nhuận kể trên có thể là không chính xác, v́ theo
bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nếu cắt hết
những ưu đăi về đất đai, vốn, tài nguyên... để đưa về một mặt bằng như
của tư nhân, th́ có thể lợi nhuận không c̣n, thậm chí là âm.
Bà Phạm Chi Lan cho
rằng, việc dành nhiều ưu đăi cho doanh nghiệp nhà nước đă tác động trực
tiếp tới khả năng phát triển của khu vực tư nhân.
Phải thay đổi từ
luật
Để tạo cơ hội cho
doanh nghiệp trong nước phát triển về quy mô, đặc biệt là khu vực tư
nhân, cần phải xét lại từ luật pháp, yếu tố nền tảng. Các chuyên gia
tham dự hội thảo cho rằng, luật pháp phải được thiết kế sao cho thực sự
trở thành công cụ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng
thời tạo lập môi trường cạnh tranh b́nh đẳng cho mọi thành phần kinh tế.
Tiến sĩ Phạm Tuấn Khải, Phó trưởng Ban Xây dựng pháp luật của Văn pḥng
Chính phủ, cho rằng hệ thống luật của Việt Nam hiện nay nặng về quản lư
hơn hỗ trợ. Các cơ quan soạn thảo luật chủ yếu đưa vào những quy định
nhằm tạo thuận lợi cho ḿnh hơn là cho cộng đồng doanh nghiệp.
Vấn đề quan trọng cần
giải quyết là bảo đảm tính minh bạch trong quy tŕnh xây dựng luật, xóa
bỏ t́nh trạng cục bộ, khép kín. Hơn nữa, quá tŕnh dự thảo luật cần có
sự tham gia hoặc tham vấn đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật là cộng
đồng doanh nghiệp, thông qua đại diện của họ là các hiệp hội ngành nghề,
nhằm bảo đảm tính khả thi sau khi ban hành.
Vừa qua, một số dự
thảo luật đă được đưa ra lấy ư kiến của cộng đồng doanh nghiệp, nhưng
chưa nhiều. Riêng các văn bản hướng dẫn dưới luật, cơ hội cho các hiệp
hội nghề nghiệp tham gia, góp ư chưa nhiều, nên không ít quy định không
được cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ. Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp
chế của Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cho biết v́ lợi ích
cục bộ nhiều cơ quan nhà nước không muốn mời doanh nghiệp tham gia góp ư
cho các bản dự thảo. Ông nói: “Không ít trường hợp, để đối phó, họ chỉ
miễn cưỡng mời một số doanh nghiệp thân hữu góp ư”.
TBKTSG Số :
25-2006 ( 809 ) -
Ngày : 15-6-2006
|