|
Mô tả chương trình và lịch học
| Ngày thứ
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14
|
TUẦN 1: TƯ PHÁP VÀ KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH
Trong tuần đầu tiên, học viên sẽ phát triển các kỹ năng phân tích cần thiết để xây dựng, giảng dạy và yêu cầu ban hành các qui định pháp luật khuyến khích được sự trao đổi có lợi cho xã hội thông qua việc giảm thiểu những động cơ cho chủ nghĩa cơ hội và sự sao lãng. Trong nội dung này, các học viên sẽ đọc những tác phẩm nổi tiếng của các học giả như Ronald Coase, Richard Posner, Mitch Polinsky, và Robert Elkinson.
| NGÀY THỨ NHẤT |
CHỦ NHẬT 2/1/2005 |
|
Các giả định của mô hình thị trường và vai trò của pháp luật
Mô tả: Thị trường là gì và luật có vai trò gì liên quan đến hoạt động của thị trường? Thảo luận những giả định cơ bản của mô hình thị trường (cụ thể như thông tin hoàn hảo và cạnh tranh tuyệt đối). Học viên sẽ sử dụng mô hình tình thế nan giải của tù nhân để phân tích vai trò của luật trong việc hỗ trợ các hoạt động trao đổi có lợi.
Định lý Coase: Chi phí giao dịch và soạn thảo các qui định pháp luật
Mô tả: Sự trao đổi hiệu quả thường gặp khó khăn vì chi phí giao dịch (cụ thể, chi phí tìm kiếm người mua, thương thảo các điều khoản và chi phí dự kiến để buộc thực thi hợp đồng). Trong phần này, học viên sẽ thảo luận ý nghĩa của định lý Coase khi nêu rằng những quy định pháp luật đuợc xây dựng tốt có thể khuyến khích các trao đổi có lợi cho xã hội và ngược lại, những quy định đuợc soạn thảo kém sẽ hạn chế phúc lợi xã hội.
| NGÀY THỨ 2 |
THỨ HAI 3/1/2005 |
|
Vi phạm hợp đồng: Thiết kế những biện pháp chế tài hữu hiệu
Mô tả: Các cam kết thương mại thường không được tôn trọng. Đôi khi các trường hợp vi phạm hợp đồng lại có lợi cho tất cả các bên, nhưng đôi khi chúng chỉ làm giàu cho một bên và gây thiệt hại cho bên kia. Trong phần này, học viên sẽ phân tích xem các biện pháp chế tài được thiết kế đúng đắn có thể khuyến khích như thế nào các trường hợp vi phạm hợp đồng hiệu quả và ngăn chặn trường hợp vi phạm hợp đồng phi hiệu quả.
Luật sở hữu tài sản: Nền tảng kinh tế và chuẩn mực xã hội
Mô tả: Cùng với việc tìm hiểu về cơ sở kinh tế của quyền sở hữu tài sản, học viên sẽ thảo luận về sức mạnh của các chuẩn mực xã hội (những thông lệ tồn tại“ngoài luật” được các cộng đồng áp dụng thay vì chính phủ) trong việc hỗ trợ mục đích sử dụng tài sản với tác dụng tương tự, thậm chí còn tốt hơn, so với luật lệ được ban hành chính thức. Với việc mở rộng mô hình nan giải của tù nhân, các học viên sẽ phân tích lợi ích và hạn chế của các chuẩn mực xã hội.
| NGÀY THỨ 3 |
THỨ BA 4/1/2005 |
|
Hợp đồng bảo hiểm: Sợ rủi ro và tâm lý ỷ lại
Mô tả: Hầu hết mọi người không thích rủi ro (nói cách khác, họ sẽ chọn có ngay 1,000,000 đồng thay vì 50% cơ hội nhận được 2,000,000 đồng). Thực tế, nhiều người sẽ trả tiền cho người khác (ví dụ, công ty bảo hiểm) để gánh chịu rủi ro tài chính cho mình. Tuy nhiên, khi một bên loại bỏ được rủi ro gánh chịu mất mát về tài chính của mình, ở họ sẽ xuất hiện động cơ mạnh mẽ để khỏi phải hành xử cẩn thận một cách hợp lý trong việc ngăn ngừa tổn thất đã được bảo hiểm. Các học viên sẽ phân tích các phương pháp xây dựng hợp đồng bảo hiểm sao cho khuyến khích được sự cẩn trọng mang tính hiệu quả đối với xã hội.
Quyền sử dụng tài sản không tương thích: Xây dựng quyền sử dụng tài sản có hiệu quả
Mô tả: Nhà máy sản xuất nước mắm của Phú Quốc được quyền thải ra mùi độc hại (trong khi các khách sạn lại đang cố gắng thu hút khách du lịch!) hay các cư dân địa phương có quyền được hít thở không khí trong lành? Học viên sẽ thảo luận xem chi phí tương đối của quá trình thương thảo giữa các bên và việc tiếp cận của nhà nước với thông tin chính xác về lợi ích/thiệt hại ảnh hưởng như thế nào đến sự lựa chọn của nhà nước trong việc phân bổ quyền sở hữu tài sản (và những phương pháp được vận dụng để bảo vệ các quyền này.)
| NGÀY THỨ 4 |
THỨ TƯ 5//2005 |
|
Chi phí thông tin và những nguyên tắc hợp đồng mặc định
Mô tả: Các hợp đồng ẩn chứa hai quan điểm khác nhau đối với cùng sự kiện; một bên đánh giá sản phẩm mua được có giá trị cao hơn, còn bên kia đánh giá số tiền nhận được là lớn hơn chân giá trị của sản phẩm. Những kỳ vọng khác nhau về giá trị sản phẩm đều phụ thuộc vào những thông tin chưa được tiết lộ. Ví dụ, người bán có thể biết rõ những khiếm khuyết tiềm ẩn trong sản phẩm hoặc người mua biết rằng đó thật sự là một món đồ cổ. Với hàng loạt các loại thông tin từ sự hiểu biết riêng của cá nhân cho đến việc cố tình gian lận, những thông tin không được tiết lộ tạo ra “ khoản tiền mờ ảo” của giao dịch. Các học viên sẽ phân tích việc soạn thảo tốt luật hợp đồng có thể khuyến khích như thế nào việc tiết lộ và không tiết lộ thông tin tiềm ẩn một cách hiệu quả.
Xây dựng qui định pháp luật trong nền kinh tế chuyển tiếp: Bi kịch của việc phân chia manh mún quyền sở hữu (Anti-Commons)
Mô tả: Giữa thập niên 1990, tại sao các nhà buôn ở Matxcơva lại bán hàng trong những ki-ốt che chắn tạm bợ bằng kim loại trong khi các gian hàng mặt tiền, không ai sử dụng và được che chắn tốt để chống lại mùa đông khắc nghiệt, lại bỏ trống dọc theo các đại lộ thương mại? Trong phần này, các học viên sẽ phân tích xem các qui định pháp luật không được soạn thảo tốt, vốn phổ biến ở các nền kinh tế chuyến tiếp, làm thế nào có thể dẫn đến việc loại bỏ giá trị xã hội của một nguồn lực một cách tai hại.
| NGÀY THỨ 5 |
THỨ NĂM 6/1/2005 |
|
Phân tích tình huống và thảo luận
Vai trò của thể chế pháp luật trong phát triển kinh tế ở Thụy điển thế kỷ 19
Mô tả: Vào đầu thế kỷ 19, Thụy Điển thuộc vùng đất nghèo nhất của châu Âu. Tuy nhiên, giai đoạn giữa 1820 và 1860 là lúc nước này đạt được sự những phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới. Điều gì lý giải cho sự xoay chuyển này? Theo Tiến sĩ Ari Kokko, sự thành công của Thụy Điển đã được đảm bảo bằng “năng lực dư thừa” trong hệ thống pháp lý - với những luật lệ được thiết kế tốt - từ đó cho phép nước này gặt hái lợi ích từ những biến động nghiêm trọng của thị trường. Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của Thụy Điển hay không?
| NGÀY THỨ 6 - 7 |
THỨ SÁU 7/1/2005 - THỨ BẢY 8/1/2005 |
|
Thời gian cuối tuần dành cho nội dung đàm phán tập trung
Trong những ngày cuối tuần học tập trung này, các học viên sẽ ứng dụng những công cụ phân tích vừa được mài giũa và phát triển các kỹ năng đàm pháp khi gặp phải những vấn đề về thông tin bất cân xứng, hành vi cơ hội của các bên đối nghịch, và các qui định pháp luật không được soạn thảo rõ ràng. Thông qua việc ứng dụng các kỹ năng của mình vào các tình huống thực tế ở Việt Nam, nội dung đàm phán sẽ củng cố năng lực của các nhà hoạch định chính sách pháp luật trong vai trò của người giải quyết vấn đề.
| NGÀY THỨ 8 |
CHỦ NHẬT 9/1/2005 |
|
THỜI GIAN ĐỌC TÀI LIỆU
| TUẦN 2: QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ SỰ ĐIỀU TIẾT THỊ TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Trong tuần thứ hai, học viên sẽ hiểu được vì sao công tác tổ chức công ty lại là một giải pháp hấp dẫn khác so với thị trường trong nhiều bối cảnh thương mại. Trong quá trình ứng dụng những công cụ đã học ở tuần trước, học viên sẽ hiểu rõ hơn sự đa dạng hóa trong đầu tư và chuyên môn hóa trong quản lý của doanh nghiệp quan trọng như thế nào đối với phát triển kinh tế.
| NGÀY THỨ 9 |
THỨ HAI 10/1/2005 |
|
Lý thuyết công ty
Mô tả: Trong một thị trường các cá nhân trao đổi hàng hóa với nhau dựa theo giá cả. Tuy nhiên, trong nội bộ một công ty, cơ chế định giá của thị trường bị loại bỏ, các cá nhân trao đổi dịch vụ (ví dụ, sức lao động) theo những qui định và chuẩn mực của công ty. Học viên sẽ phân tích tại sao và trong điều kiện nào, các công ty lại là phương tiện hiệu quả hơn trong việc tổ chức các hoạt động thương mại so với thị trường.
Các doanh nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu
Mô tả: Luật công ty ở khắp nơi trên thế giới tương tự nhau đến ngạc nhiên. Cũng giống như Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, đa số các luật công ty đều được soạn thảo cho những nhà đầu tư sống rãi rác khắp nơi. Họ ủy quyền ra quyết định cho các giám đốc và nhà quản lý chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam đa số công ty do chính chủ nhân trực tiếp điều hành. Thông qua thảo luận về lợi ích của cơ cấu tổ chức này, học viên sẽ phân tích các động lực thị trường thường buộc công ty phải đa dạng hóa quyền sở hữu và thuê các nhà quản lý chuyên nghiệp.
| NGÀY THỨ 10 |
THỨ BA 11/1/2005 |
|
Trách nhiệm hữu hạn và công ty như một pháp nhân
Mô tả: Khi một doanh nghiệp sản xuất một sản phẩm có hại, hay đi đến phá sản, liệu chính bản thân các chủ sở hữu của công ty có phải chịu trách nhiệm? Điều gì xảy ra nếu tài sản của công ty không đủ để bồi thường các thiệt hại? Học viên sẽ thảo luận các lý do kinh tế cơ sở trong việc giới hạn trách nhiệm nợ của chủ sở hữu và phát triển một lý thuyết cho thấy khi nào tính hiệu quả và công bằng có thể đòi hỏi không cần phải xem xét đến học thuyết trách nhiệm hữu hạn.
Vai trò của điều lệ chứng khoán I
Mô tả: Các công ty là những phương tiện quan trọng trong việc huy động nguồn vốn của xã hội. Nếu không có các qui định thì liệu các công ty có giấu đi những thông tin xấu và tạo ra những thông tin lạc quan không cần thiết nhằm thu hút những nhà đầu tư tiềm năng hay không? Làm thế nào các nhà đầu tư, vốn biết rất ít về việc quản lý công ty, có thể tin rằng tiền tiết kiệm của họ sẽ không bị lãng phí? Bằng cách sử dụng các nguyên tắc lý thuyết trò chơi, các học viên sẽ phân tích xem những mối tương tác được lặp lại nhiều lần giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng như những quan ngại về tiếng tăm của công ty kiểm toán và công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán làm thế nào có thể ngăn cản các công ty không đánh lừa nhà đầu tư.
| NGÀY THỨ 11 |
THỨ TƯ 12/1/2005 |
|
Vai trò của điều lệ chứng khoán II
Mô tả: Nếu các doanh nghiệp có động cơ cung cấp thông tin đáng tin cậy, thì vai trò của điều lệ chứng khoán là gì? Thông qua tình huống nan giải của tù nhân,học viên sẽ thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến hành động tập thể có khả năng ngăn cản công ty cung cấp những thông tin có lợi về mặt xã hội. Các học viên sẽ phân tích xem những qui định pháp luật được thiết kế tốt nhằm giải quyết chi phí giao dịch sẽ hỗ trợ như thế nào việc phân bổ các nguồn lực của xã hội một cách có hiệu quả.
Quản trị công ty, chi phí thừa hành và các doanh nghiệp nhà nước
Mô tả: Trong các doanh nghiệp hiện đại, hàng ngàn nhà đầu tư ủy quyền ra quyết định cho một vài nhà quản lý. “Sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát này tạo ra mâu thuẫn cơ bản về quyền lợi: các nhà quản lý có động cơ trục lợi cá nhân (những đặc quyền không cần thiết), còn các nhà đầu tư đơn lẻ do khó khăn trong hành động tập thể nên không có động cơ để giám sát ban quản lý. Các học viên sẽ thảo luận các phương pháp quản trị công ty có khả năng giảm thiểu “chi phí thừa hành” này và tính khả thi của những phương pháp này đối với doanh nghiệp nhà nước.
| NGÀY THỨ 12 |
THỨ NĂM 13/1/2005 |
|
Chính sách cạnh tranh và phúc lợi xã hộI
Mô tả: Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, giá hàng hóa bằng với chi phí biên trong sản xuất. Điều cũng hợp lý là các doanh nghiệp đều muốn có lợi nhuận cao hơn. Cách đơn giản để tăng lợi nhuận là “loại bỏ sự cạnh tranh” hay làm cho các nhà cạnh tranh trong ngành thống nhất “chốt giá”. Tuy nhiên những hành vi phản cạnh tranh này chỉ đơn thuần chuyển giao của cải từ người tiêu dùng sang các công ty mà không tạo ra phúc lợi xã hội. Thông qua chủ đề chi phí xã hội của hành vi độc quyền, các học viên sẽ phân tích vai trò quan trọng của các định chế pháp lý trong việc đảm bảo phúc lợi người tiêu dùng và một thị trường cạnh tranh.
Khía cạnh kinh tế của sự sụp đổ doanh nghiệp
Mô tả: Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp thất bại trong kinh doanh; chẳng hạn ở Hoa Kỳ 90% các doanh nghiệp mới thành lập giải thể trong vòng 2 năm. Xã hội nên phân chia tài sản của công ty làm ăn thất bại cho các chủ nợ (ví dụ, ngân hàng, nhân viên) như thế nào? Thông qua thảo luận về vai trò của luật phá sản trong việc tối đa hóa giá trị của công ty phá sản, các học viên sẽ phân tích việc những qui định pháp luật được thiết kế tốt có thể khuyến khích như thế nào việc tái phân phối tài sản của doanh nghiệp một cách công bằng và hiệu quả về mặt xã hội.
| NGÀY THỨ 13 |
THỨ SÁU 14/1/2005 |
|
Giới thiệu tình huống lớn
Tình huống: Việt Nam quyết định tương lai của mình
Mô tả: Các nhà làm chính sách của Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn cơ bản gây ra những trở ngại trong hoạt động đầu tư công, các doanh nghiệp nhà nước, giá đất và giáo dục. Bản chất của những vấn đề này là gì, và đâu là các yếu tố cần thiết cho một giải pháp mạnh mẽ?
Không gian luật định ở Trung Quốc
Mô tả: Trong 30 năm qua, Trung Quốc đã tự chuyển đổi từ một nền kinh tế mệnh lệnh thành nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Đâu là những bài học, nếu có, về sự thất bại và thành công trong kinh nghiệm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể học được?
| NGÀY THỨ 14 |
THỨ BẢY 15/1/2005 |
|
Phân tích và thảo luận tình huống lớn
Thảo luận chung về luật thương mại Việt Nam
| | |
|